Xây Dựng Ngành Thủy Sản Đạt Tiêu Chuẩn Quốc Tế

Xây Dựng Ngành Thủy Sản Đạt Tiêu Chuẩn Quốc Tế

21/11/2016 15:38 / Đăng bởi admin

Được biết, hàng năm thị trường châu Âu nhập khẩu khoảng 1/5 tổng khối lượng rau quả tươi (FFV) xuất khẩu của Việt Nam nhưng con số này mới chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ trong tổng lượng kim ngạch nhập khẩu rau quả tươi của EU- thị trường tiêu thụ và nhập khẩu nhiều nhất thế giới.

Theo thống kê năm 2005, 15 nước thành viên thuộc EU đã nhập khẩu khoảng 120 triệu đô la Mỹ rau quả tươi từ Việt Nam. Trong đó, sản phẩm thanh long là một trong những mặt hàng xuất khẩu đang tăng trưởng triển vọng nhất; còn lại ngô bao tử, nấm và ớt cũng có triển vọng tăng trưởng xuất khẩu lớn. các mặt hàng sấy khô, đóng hộp ,.. thường gặp ít rào cản SPS hơn là các sản phẩm tươi sống.

Xây dựng ngành thủy sản đạt tiêu chuẩn quốc tế

1-slg

Nhìn chung, để đáp ứng được các yêu cầu kiểm dịch động thực vật, các nhà sản xuất và thương nhân còn phải tốn kém chi phí không nhỏ. Trong trường hợp thị trường xuất khẩu áp dụng các mức tiêu chuẩn cao hơn các tiêu chuẩn của Việt Nam, chẳng hạn như tiêu chuẩn EU – EU standard sẽ  làm tăng đáng kể những chi phí xuất khẩu của Việt Nam. Ví dụ: chi phí kiểm nghiệm để chứng minh không có tồn đọng và dư lượng thuốc trừ sâu trong các lô hàng xuất khẩu có thể con số này vượt qua rất cao so với lợi nhuận, nhưng chúng ta không nên kết luận rằng các tiêu chuẩn EU – EU standard là “quá cao”.

>Vượt qua rào cản đẩy mạnh xuất khẩu sang EU

>Một số dạng tiêu chuẩn mà người tiêu dùng cần biết

Theo Hiệp định SPS, các nước là thành viên của tổ chức WTO có thể lựa chọn mức độ bảo vệ mong muốn và có quyền áp dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ sức khỏe và sinh mạng của con người cũng như động thực vật nếu các biện pháp đó không vi phạm các điều khoản của Hiệp định. Thậm chí theo Hiệp định SPS, thì các nước thuộc khối cộng đồng chung Châu Âu – EU có thể áp dụng các quy định chặt chẽ so với các tiêu chuẩn quốc tế tương ứng (như trường hợp với tiêu chuẩn về độ nhiễm độc tố nấm mốc hoặc chất 3-MPCD trong thực phẩm) nếu hiệu quả của biện pháp đó có thể minh chứng được qua đánh giá rủi ro và EU phải quản lý rủi ro một cách nhất quán.

Đối với mặt hàng thủy sản, từ góc độ Việt Nam, tác động quan trọng nhất của các biện pháp SPS của EU là ở chỗ cho thấy ngành thủy sản Việt Nam cần phát triển như thế nào để có thể khai thác tốt được thị trường rộng lớn này. Trong số đó, tuân thủ các tiêu chuẩn EU – EU standard đề ra là điều kiện tiên quyết để có thể thâm nhập vào thị trường. Do đó, nếu muốn bán hàng sang thị trường EU – Export to euro, Việt Nam không còn sự lựa chọn nào khác ngoài đầu tư xây dựng ngành thủy sản xuất khẩu đạt tiêu chuẩn quốc tế. Mức lợi nhuận hiện tại của ngành thủy sản cho thấy, chi phí đầu tư ban đầu và phí duy trì việc đáp ứng các tiêu chuẩn của EU là có thể được bù đắp được từ lợi nhuận thu về.

Đồng thời, sự phát triển của ngành xuất khẩu thủy sản sẽ là hình mẫu cho việc hướng tới mục tiêu tạo dựng chỗ đứng cho các sản phẩm chủ chốt của Việt Nam trên thị trường giá trị cao của các nước phát triển.

KHÁCH HÀNG TIÊU BIỂU